THAM LUẬN
ĐÀO TẠO TĂNG TÀI TRONG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM: KẾ
THỪA TRUYỀN THỐNG TÒNG LÂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC PHẬT GIÁO TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Hòa thượng Thích Minh Thiện
(UV.HĐTS GHPGVN, Hiệu trưởng Trường TCPH Tây Ninh)
TÓM TẮT
Bài tham luận tập trung nghiên cứu công tác đào tạo Tăng tài trong hệ thống Giáo
hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) qua tiến trình lịch sử từ trước năm 1981 đến nay,
đồng thời định hình tầm nhìn chiến lược cho giai đoạn 2026–2045. Bằng các phương
pháp khảo sát và phân tích hệ thống, tác giả làm rõ nội hàm khái niệm “Tăng tài” –
những bậc xuất gia vẹn toàn giới đức, tinh thông giáo lý và đủ năng lực gánh vác Phật
sự nhập thế. Nghiên cứu chỉ ra bước chuyển dịch cơ cấu căn bản từ mô hình tòng lâm,
tổ đình cổ truyền (thiên về thân giáo, thực nghiệm tâm linh nhưng thiếu tính đồng bộ)
sang hệ thống giáo dục học đường hiện đại đa cấp bậc, liên thông từ Sơ cấp đến Sau
Đại học của Giáo hội. Bên cạnh những thành tựu vượt bậc về quy mô đào tạo và hội
nhập quốc tế, công tác giáo dục Phật giáo hiện nay cũng đang đối mặt với các thách
thức lớn như sự bất cân bằng giữa học thuật và hành trì, yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ
giảng sư, cùng áp lực toàn cầu hóa và chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất
chiến lược phát triển lưỡng toàn trong kỷ nguyên mới theo thế kiềng ba chân bền vững:
kế thừa tinh tủy truyền thống tòng lâm, chuẩn hóa toàn diện chất lượng đào tạo và thúc
đẩy mạnh mẽ hệ sinh thái số, nhằm kiến tạo một thế hệ Tăng tài đủ tầm vóc hộ trì chánh
pháp và hiển dương bản sắc Phật giáo Việt Nam cùng thời đại.
Từ khóa: Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Đào tạo Tăng tài; Giáo dục Phật giáo;
Truyền thống tòng lâm; Chuẩn hóa giáo dục; Kỷ nguyên mới; Chuyển đổi số.1
DẪN NHẬP
- Lý do chọn đề tài
Từ khi thành lập năm 1981 đến nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) luôn
xác định giáo dục là lĩnh vực nền tảng để đào tạo Tăng Ni vẹn toàn tri thức lẫn đạo hạnh,
bảo đảm sự kế thừa mạng mạch Phật pháp trong từng giai đoạn lịch sử. Giáo dục Phật
giáo không dừng ở việc truyền đạt tri thức kinh điển mà còn hướng đến sự chuyển hóa
nội tâm, phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách người học theo tinh thần Văn – Tư –
Tu. Giáo dục Phật giáo, vì thế, vừa mang tính học thuật, vừa là một tiến trình tu tập và
phụng sự. 1
Về phương diện học thuật, đề tài góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa truyền
thống và hiện đại trong giáo dục Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là mối quan hệ giữa giáo
dục tòng lâm và hệ thống học viện. Về mặt thực tiễn, việc đúc kết những thành tựu cùng
hạn chế của công tác đào tạo Tăng tài sẽ gợi mở các định hướng chiến lược khả thi cho
tầm nhìn 2026–2045. Giữa bối cảnh Giáo hội đang chuyển mình bước vào giai đoạn
phát triển mới, việc nhìn lại quá khứ chính là chiếc neo vững chắc để hoạch định một
tương lai bền vững, khế hợp với thời đại.2
Từ những luận điểm trên, việc nghiên cứu đề tài “Đào tạo Tăng tài trong Giáo hội
Phật giáo Việt Nam: Kế thừa truyền thống tòng lâm và định hướng phát triển giáo dục
Phật giáo trong kỷ nguyên mới” mang tính cấp thiết sâu sắc. Công trình này không chỉ
khẳng định tầm vóc then chốt của giáo dục Phật giáo trong sự phát triển của GHPGVN
mà còn góp phần đề xuất một cách tiếp cận hài hòa giữa truyền thống tòng lâm và mô
hình giáo dục hiện đại. Mục tiêu tối hậu là tạo dựng một thế hệ Tăng tài trang nghiêm
giới đức, tinh thông tri thức, đủ năng lực gánh vác Phật sự trong kỷ nguyên mới.
1
Thích Nhật Từ chủ biên (2019), Giáo dục Phật giáo: Bản chất, phương pháp và giá trị, Nxb. Hồng Đức,
Hà Nội.
2
“Quy chế hoạt động của Ban Giáo dục Phật giáo T.Ư Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu
Phật học, ngày 08/01/2025.
https://tapchinghiencuuphathoc.vn/quy-che-hoat-dong-cua-ban-giao-duc-phat-giao-t-u-giao-hoi-phat
giao-viet-nam.html2
- Khái niệm Tăng tài
Trong dòng chảy Phật giáo Việt Nam, “Tăng tài” là danh xưng tôn quý dành cho
những bậc Tăng Ni hội đủ cả đức lẫn tài. Họ không chỉ nghiêm trì giới luật, giữ gìn
phạm hạnh cốt cách của người xuất gia mà còn sở hữu tư duy học thuật sắc bén cùng
năng lực hoằng pháp, tổ chức và lãnh đạo Giáo hội. Tăng tài không đơn thuần là người
sở hữu học hàm, học vị cao mà là sự hòa quyện của tri thức, đạo hạnh và tâm nguyện
phụng sự. Khái niệm này khế hợp hoàn toàn với triết lý giáo dục Phật giáo hiện đại: học
không rời tu và tu không rời tâm thế nhập thế lợi sinh.
Ngược dòng lịch sử, tinh thần đào tạo Tăng tài đã sớm định hình và hun đúc qua
mô hình tòng lâm, tổ đình và các Phật học đường thời kỳ chấn hưng. Các cơ sở như Phật
học đường, trường Tăng học, và các lớp học trong mùa an cư đều hướng đến việc tạo
dựng một đội ngũ Tăng sĩ có thể gánh vác trách nhiệm hoằng dương Phật pháp. Bài viết
về công tác giáo dục tăng ni ở Hội Phật giáo Bắc Kỳ 3 cho thấy ngay những ngày đầu,
các bậc tiền bối đã hiểu rằng muốn chấn hưng đạo pháp thì phải đào tạo được những
“tăng đồ chân tu thực chứng, gánh nổi cái trách nhiệm hoằng pháp lợi sinh”. Điều đó
cho thấy “Tăng tài” không phải là khái niệm mới mà là kết tinh của một nhu cầu lịch sử
lâu dài của Phật giáo Việt Nam.
Trong bối cảnh GHPGVN, “Tăng tài” còn mang ý nghĩa tổ chức và chiến lược
hơn. Đào tạo Tăng tài là đào tạo nguồn nhân lực kế thừa cho Giáo hội, bao gồm những
vị có thể đảm nhiệm công tác giảng dạy, nghiên cứu, hành chính Giáo hội, hoằng pháp,
hướng dẫn tu học và đại diện Phật giáo trong các hoạt động đối ngoại, học thuật, xã hội.
Các văn bản của Ban Giáo dục Phật giáo Trung ương và các thông tin chính thức của
Giáo hội đều cho thấy công tác này được xem là một nhiệm vụ trọng tâm, gắn với việc
xây dựng hệ thống giáo dục nhiều cấp và chuẩn hóa đội ngũ.4
Trong phạm vi bài tham luận, khái niệm “Tăng tài” giúp khu biệt rõ rệt đối tượng
nghiên cứu. Bài viết không khái quát toàn bộ sinh hoạt của Tăng đoàn mà tập trung vào
3
“Công tác giáo dục tăng ni ở Hội Phật giáo Bắc Kỳ”, Phật Tử Việt Nam, ngày 25/09/2019, truy cập tại:
https://www.phattuvietnam.net/cong-tac-giao-duc-tang-ni-o-hoi-phat-giao-bac-ky/
4
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Quyết định v/v ban hành Quy chế hoạt động của Ban Giáo dục Phật giáo
Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, số 92/QĐ-HĐTS (21/04/2023).tiến trình đào tạo những vị Tăng Ni có năng lực học tập, giảng dạy và lãnh đạo Phật sự
trong hệ thống GHPGVN.
- Vai trò của giáo dục Phật giáo
Giáo dục Phật giáo giữ vị trí trung tâm trong tiến trình duy trì và phát triển đạo
pháp. Nếu xem Phật giáo là một hệ thống vừa mang tính tín ngưỡng vừa mang tính văn
hóa – đạo đức – tri thức thì giáo dục chính là phương tiện để truyền thừa, củng cố và
phát huy hệ thống giá trị ấy. Tiến trình này không dừng lại ở việc truyền trao tri thức mà
cốt tủy là bồi dưỡng giới hạnh, khơi mở tuệ giác và nuôi dưỡng năng lực phụng sự của
người xuất gia.
Trước hết, vai trò tối cao của giáo dục Phật giáo là định hình những bậc xuất trần
vẹn toàn Bi – Trí – Dũng. Khác với giáo dục thế học thuần tri thức, giáo dục Phật giáo
hướng đến sự chuyển hóa toàn diện Thân – Khẩu – Ý, giúp hành giả không chỉ thấu suốt
giáo lý mà còn ứng dụng vào đời sống tự thân và hành đạo. Các nghiên cứu đương đại
đều đồng thuận rằng: giáo dục Phật giáo đặt trọng tâm vào việc chuyển hóa vô minh
thành trí tuệ thanh tịnh, hoàn thiện nhân cách và lối sống thiền môn. Vì vậy, đích đến
của giáo dục không dừng ở cái “biết” lý thuyết mà nhắm đến sự “chuyển hóa” tâm linh
và “thành tựu”.
Thứ hai, trong cơ cấu tổ chức của GHPGVN, mọi Phật sự từ hoằng pháp, nghi lễ
đến từ thiện xã hội đều đòi hỏi một đội ngũ Tăng Ni đủ tầm vóc về kiến thức lẫn năng
lực hành trì. Do đó, đào tạo Tăng tài chính là chiến lược vĩ mô về nhân sự dài hạn của
Giáo hội, là cội rễ để kiến tạo một thế hệ kế thừa vững chãi, gánh vác mạng mạch đạo
pháp trong tương lai.
Thứ ba, giáo dục Phật giáo là phương thức cốt lõi để bảo tồn và hiển dương truyền
thống Phật giáo Việt Nam. Dòng chảy lịch sử chứng minh, chính các mô hình tòng lâm,
tổ đình, Phật học đường qua các thời kỳ đã hun đúc nên những thế hệ Tăng sĩ thâm
nghiêm giới đức, tinh thông giáo pháp. Giáo dục Phật giáo, vì thế, vừa là chiếc neo định
vị bản sắc, gìn giữ tinh thần giới luật và nếp sống thiền môn, vừa là động lực mở đường
cho sự phát triển nhập thế, tùy duyên mà bất biến.
Từ những phương diện trên có thể thấy, giáo dục Phật giáo vừa là điều kiện tiên
quyết để hộ trì chánh pháp trường tồn, vừa là con đường duy nhất để xây dựng Tăng
3đoàn vững mạnh. Đây chính là nền tảng lý luận vững chắc để đi sâu nghiên cứu mô hình
đào tạo Tăng tài, tạo nhịp cầu kết nối hài hòa giữa truyền thống tòng lâm và hệ thống
giáo dục hiện đại của GHPGVN.
- Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng đến làm sáng tỏ tiến trình hình thành, phát triển và định hướng chiến
lược của công tác đào tạo Tăng tài trong GHPGVN, đặt trong mối tương quan biện
chứng giữa truyền thống tòng lâm và xu thế giáo dục hiện đại. Trên phương diện tổng
quát, nghiên cứu hệ thống hóa những chuyển biến sâu sắc của giáo dục Phật giáo Việt
Nam qua các thời kỳ, qua đó khẳng định vai trò nền tảng của việc đào tạo Tăng Ni trong
sự nghiệp củng cố và phát triển Giáo hội vững mạnh.
Về phương diện cụ thể, đề tài tập trung hiện thực hóa bốn mục tiêu cốt lõi:
– Định vị khái niệm Tăng tài: Làm rõ nội hàm thuật ngữ trong bối cảnh Phật giáo
nước nhà, xác định đối tượng đào tạo là những bậc xuất gia vẹn toàn giới hạnh, tinh
thông giáo lý và đủ năng lực đảm đương Phật sự.
– Khảo sát mô hình cổ đức truyền thống: Nghiên cứu sâu sắc phương thức giáo
dưỡng trước năm 1981 nhằm đúc kết những giá trị cốt lõi như tinh thần tòng lâm, nghiêm
trì giới luật, nếp sống cộng trú và tôn chỉ học – tu – hành hợp nhất.
– Phân tích hệ thống giáo dục hiện đại: Khảo sát toàn diện sự hình thành, phát
triển của hệ thống giáo dục Phật giáo thuộc GHPGVN, đặc biệt là vai trò của mạng lưới
học viện qua các cấp đào tạo.
– Đề xuất định hướng chiến lược: Từ nền tảng lịch sử và thực tiễn, kiến nghị giải
pháp phát triển mô hình đào tạo Tăng tài giai đoạn 2026–2045 theo tinh thần kế thừa
truyền thống, chuẩn hóa chất lượng, hội nhập quốc tế và thích ứng với chuyển đổi số.
Tóm lại, nghiên cứu không dừng lại ở việc mô tả hiện trạng mà nỗ lực vạch ra một
lộ trình phát triển mang tính kế thừa toàn diện. Mục tiêu tối hậu của đề tài là khẳng định
công tác đào tạo Tăng tài chính là nhân tố quyết định bảo quyền mạng mạch của
GHPGVN, tạo tiền đề xây dựng một nền giáo dục Phật giáo vừa giữ vững bản sắc thiền
môn, vừa khế hợp với bước chuyển của thời đại.
45
NỘI DUNG CHÍNH
- Mô hình đào tạo Tăng tài truyền thống tại Việt Nam trước năm 1981
1.1. Bối cảnh lịch sử Phật giáo Việt Nam trước 1981
Trước năm 1981, Phật giáo Việt Nam cùng trải qua nhiều biến động thăng trầm
của vận nước, từ thời phong kiến, thuộc địa cho đến giai đoạn chiến tranh chia cắt. Dù
là thành tố văn hóa tâm linh lâu đời gắn liền với vận mệnh dân tộc, song Phật giáo có
những giai đoạn phải đối diện với thực trạng suy vi về mặt tổ chức, khan hiếm cơ sở
giáo dục và đội ngũ kế thừa. Các nghiên cứu lịch sử chứng minh rằng, sau thời hoàng
kim đỉnh cao dưới hai triều Lý – Trần, Phật giáo Việt Nam trong các thời kỳ sau chịu
tác động sâu sắc từ chính sách quản lý nghiêm ngặt của nhà nước phong kiến và chế độ
thực dân, dẫn đến sự suy giảm sức sống tổ chức tại nhiều địa phương. 5
Trong bối cảnh đó, nhu cầu về một thế hệ Tăng sĩ thâm nghiêm giới đức, tinh thông
giáo lý để gánh vác Phật sự trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Sự suy yếu của mô hình
sinh hoạt tự phát tại các chùa làng cùng nguy cơ gián đoạn truyền thừa đã thúc đẩy
phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX bùng nổ như một tất yếu lịch sử. Giới
Phật giáo đương thời ý thức sâu sắc rằng: muốn phục hưng đạo pháp, cốt lõi phải đặt
định vào việc đào tạo Tăng tài, mở trường lớp, lập hội Phật học, dịch thuật kinh điển và
cải tổ phương pháp giáo dục.
Làn sóng chấn hưng lan tỏa khắp ba miền, đặt nền móng vững chắc cho nền giáo
dục Phật học nước nhà. Các Hội Phật học, Phật học đường và trường Tăng học liên tục
ra đời nhằm khắc phục tình trạng tu học phân tán, đồng thời kiến tạo một thế hệ Tăng sĩ
mới đủ năng lực hoằng pháp trong xã hội hiện đại. Nhiều tư liệu khẳng định Phật học
đường Nam Việt là một trung tâm có ý nghĩa lớn trong sự nghiệp đào tạo Tăng tài tại
miền Nam, trong khi Hội An Nam Phật học lại thể hiện vai trò đầu tàu của Phật giáo
Trung Kỳ trong việc quy hoạch mô hình giáo dục theo hướng hệ thống hơn.6
5
Nguyễn Đại Đồng (2012), Phật giáo Việt Nam (Từ khởi nguyên đến năm 1981), Nxb. Văn Học, Hà Nội.
6
Dương Thanh Mừng, “Phong trào chấn hưng Phật giáo qua vai trò của Hội An Nam Phật học (1932 –
1945),” phatgiao.org.vn, ngày 16/12/2012, truy cập tại:
https://phatgiao.org.vn/phong-trao-chan-hung-phat-giao-qua-vai-tro-cua-hoi-an-nam-phat-hoc-1932–
1945-d8937.html6
Đến giữa thế kỷ XX, giữa những biến động khốc liệt của chiến tranh, vai trò của
giáo dục Phật giáo càng được định vị như một điều kiện sống còn để bảo toàn chánh
pháp. Các cơ sở Phật học lúc này không đơn thuần là nơi truyền trao kinh điển mà đã
trở thành những “lò luyện” nguồn nhân sự chiến lược cho tương lai đạo pháp. Sự chuyển
dịch từ sinh hoạt cục bộ tại các chùa làng sang các Phật học đường, trung tâm tu học
quy mô lớn phản ánh bước chuyển mình lịch sử: từ nếp sống tòng lâm tự phát sang xu
thế tổ chức giáo dục có tính hệ thống hơn.7
Nhìn chung, bức tranh lịch sử trước năm 1981 cho thấy Phật giáo Việt Nam vừa
kế thừa chiều sâu truyền thống, vừa mang tự thân nhu cầu đổi mới để tồn tại. Công tác
đào tạo Tăng tài đã trở thành sứ mệnh lịch sử tất yếu. Bởi lẽ, nếu thiếu đi một thế hệ
Tăng sĩ vẹn toàn đạo hạnh, tri thức và năng lực hành đạo, Phật giáo khó có thể duy trì
vai trò xã hội và văn hóa của mình. Bối cảnh này là tiền đề trực tiếp dẫn đến việc hình
thành một hệ thống giáo dục Phật giáo thống nhất sau năm 1981 dưới sự điều hành của
GHPGVN.
1.2. Nội dung đào tạo
Nội dung đào tạo Tăng tài giai đoạn trước năm 1981 được kiến tạo trên nền tảng
Kinh – Luật – Luận kết hợp linh hoạt với thế học và ngoại điển tùy theo từng cơ sở cùng
chuyển biến lịch sử. Đây chính là nét đặc thù của giáo dục Phật giáo truyền thống Việt
Nam: lấy nội điển làm cốt lõi, đồng thời tiếp thu tri thức phổ thông để người học có thể
thích ứng với xã hội đương thời. Xu hướng này biểu hiện rõ nét khắp cả nước.
Tại miền Bắc, công tác giáo dục Tăng Ni của Hội Phật giáo Bắc Kỳ được quy
hoạch theo hệ thống tam cấp: Tiểu học, Trung học và Đại học. Trọng tâm chương trình
là các kinh điển căn bản, giới luật song hành cùng tri thức thế học như Quốc ngữ, Toán,
Việt sử, Địa dư, Hán văn…8 Điều này minh chứng ngay từ thuở chấn hưng, Phật giáo
Bắc Kỳ đã chú trọng toàn diện giữa việc học đạo và nâng cao năng lực học thuật cho
học tăng.
Cụ thể, cấp Tiểu học (4 năm) tập trung vào các kinh luận nhập môn: Luật Sa Di,
Phật Tổ Tam Kinh, Di Đà, Thủy Sám, Cảnh Sách, cùng Quốc ngữ và Toán. Cấp Trung
7
Nguyễn Tài Thư chủ biên (1988), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
8
Hòa thượng Thích Trí Hải (2004), Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam. Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.7
học (3 năm) mở rộng sang hệ thống giáo lý chuyên sâu: Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Duy
Ma Cật, Trung A Hàm, Luật Tứ Phần, bổ sung Hán văn, Việt văn, Việt sử, Luận ngữ và
Triết học đại cương. Cấp Đại học (3 năm) nâng tầm lên các tác phẩm học thuật tối
thượng: Bát Nhã, Niết Bàn, Phạm Võng, Khởi Tín, Đại Trí Độ Luận, Thiền Uyển Tập
Anh, kinh điển Nho gia… Cấu trúc học thuật này hướng học tăng đến tư duy biện chứng,
đối chiếu và vận dụng giáo lý vào thực tiễn. Ngoài ra, các lớp chuyên sâu và tốc thành
sư phạm được mở thêm nhằm đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn, phục vụ công tác
hoằng pháp lợi sinh của Giáo hội.
Tại miền Nam, tiêu biểu là Phật học đường Nam Việt, nội dung đào tạo được tổ
chức vô cùng bài bản và linh hoạt. Giai đoạn đầu, chương trình xoay quanh các bộ nội
điển kinh điển: Kim Cang, Duy Ma Cật, Đại Thừa Khởi Tín luận, Bách Pháp Minh Môn
luận, Tứ Phần Luật. Về sau, hệ thống giáo trình được chuẩn hóa từ tiểu học đến đại học,
có cả chương trình chuyên sâu cho học tăng xuất sắc.
Điểm son của Phật học đường Nam Việt là sự dung hợp hài hòa giữa nội điển và
ngoại điển. Bên cạnh Phật học, học tăng được trang bị kiến thức về Hán văn, Việt văn,
Pháp văn, Toán học, Lịch sử Phật giáo, Xã hội kinh tế học, cùng kỹ năng phiên dịch và
sáng tác. Nếu ở cấp tiểu học và trung học, tăng sinh vừa học giáo lý vừa hoàn thiện văn
hóa phổ thông thì lên cấp đại học, chương trình đặc biệt nhấn mạnh vào Triết học, Kinh
học, Sử học và năng lực biên dịch chuyên sâu. Phương thức này cho thấy xu hướng hiện
đại hóa giáo dục sớm nhưng vẫn đặt trọng tâm trên nền tảng truyền thống nội điển.9
Một giá trị cốt lõi khác là nội dung đào tạo không xa rời thực tế. Học tăng được
rèn đúc nghiêm cẩn trong môi trường thiền môn, thấm nhuần giới luật, oai nghi qua đời
sống cộng trú kỷ cương. Việc học luôn gắn liền với tu tập và trải nghiệm Phật sự, tạo
nên sự cân bằng tuyệt đối giữa kiến thức và phẩm hạnh, giữa học thuật và hành trì.
Từ hai trường hợp tiêu biểu ở miền Bắc và miền Nam có thể thấy nội dung đào tạo
Tăng tài trước năm 1981 mang ba đặc điểm thủ bản: lấy Kinh – Luật – Luận làm trung
tâm; mở rộng thế học khế lý khế cơ; và gắn liền việc học với sự hình thành phạm hạnh
tự thân. Nền tảng vững chắc đó đã hun đúc nên một thế hệ Tăng Ni vẹn toàn đạo hạnh
9
Trí Không (2009), Tổ đình Ấn Quang và lịch sử phát đạt của Phật giáo Việt Nam từ năm 1950 trở đi, Tu
viện Huệ Quang tái bản, TP. Hồ Chí Minh.8
lẫn học lực, làm tiền đề trực tiếp cho sự phát triển của hệ thống giáo dục Phật giáo thống
nhất sau này.
1.3. Ưu điểm và hạn chế
Mô hình đào tạo Tăng tài truyền thống tại Việt Nam trước năm 1981, đặt trong bối
cảnh lịch sử đương thời, sở hữu nhiều ưu điểm giá trị. Trước hết, đây là phương thức
giáo dưỡng gắn liền với đời sống thực nghiệm tâm linh, nơi tăng sinh được rèn đúc trực
tiếp trong môi trường tòng lâm, tổ đình hoặc các hạ trường an cư. Nhờ đó, việc học luôn
song hành với hành trì với nền tảng giới luật, oai nghi, tu tập dưới “thân giáo” nghiêm
cẩn của các bậc tôn túc. Nhiều nghiên cứu cho thấy hình thức giáo dục truyền thống này
mang tính linh hoạt cao, giàu tính thân giáo và giúp thiết lập mối quan hệ thầy trò rất
sâu đậm.10
Ưu điểm thứ hai là khả năng bảo tồn bản sắc Phật giáo vô cùng mạnh mẽ. Giữa
không gian thiền môn, việc thâm nhập kinh, luật, luận không đơn thuần là tích lũy tri
thức mà cốt tủy để nuôi dưỡng đạo hạnh, dung thông nội điển – ngoại điển trong đời
sống tu học. Thế hệ Tăng sĩ bước ra từ chiếc nôi này thường sở hữu nền tảng giới hạnh
vững chãi, lý tưởng phụng sự cao và khả năng thích ứng trọn vẹn với quy tắc hành trì
tòng lâm.
Một ưu điểm khác là tính tự chủ, chi phí thấp, phù hợp với đặc thù của xã hội nông
nghiệp. Giáo dục được tổ chức khép kín ngay tại tự viện, dựa trên mối quan hệ thầy trò
và sự hộ trì của Phật tử. Cơ chế này giúp duy trì mạng mạch học thuật ngay cả trong
điều kiện vật chất ngặt nghèo, kiến tạo một không gian giáo dục gắn kết hài hòa với đời
sống tâm linh cộng đồng. Chính nhờ thế, Phật giáo Việt Nam vẫn được truyền thừa liên
tục suốt nhiều thế kỷ biến động dù chưa có hệ thống học viện quy mô như hiện nay.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm ấy, mô hình đào tạo truyền thống cũng bộc lộ
nhiều hạn chế khi xã hội bước vào thời cận đại và hiện đại. Hạn chế dễ thấy nhất là nội
dung đào tạo không đồng đều, phụ thuộc hoàn toàn vào sở học và năng lực của từng vị
giáo thọ sư. Do phương thức truyền thừa mang nặng tính khẩu truyền và tùy duyên nên
chất lượng giữa các các sơn môn, tổ đình có sự chênh lệch rõ rệt. Bên cạnh những trung
10
Pháp sư Truyền Minh (2010), “So sánh hệ thống giáo dục Phật giáo,” tham luận tại Hội thảo giao lưu
Phật giáo Mân Đài lần thứ 2.9
tâm giáo dưỡng thâm nghiêm, vẫn có nhiều cơ sở việc học chỉ dừng lại ở mức ứng phó
nghi lễ và tụng đọc căn bản.
Hạn chế thứ hai là chương trình học thiếu tính hệ thống và chuẩn hóa. Học tăng có
thể thâm nhập rất sâu vào một bộ kinh hay một khoa nghi nhất định, nhưng khó tiếp cận
một khung chương trình đồng bộ về triết học, lịch sử, ngữ văn, phương pháp nghiên cứu
hay kỹ năng hoằng pháp hiện đại. Điều này đặc biệt trở thành rào cản khi Phật giáo phải
đối diện với xã hội mới, nơi tri thức khoa học, giáo dục phổ thông và năng lực đối thoại
liên ngành ngày càng quan trọng.11
Hạn chế thứ ba là giới hạn về quy mô đào tạo. Vì phụ thuộc chặt chẽ vào từng tôn
túc và từng đạo tràng cụ thể, việc đào tạo không thể triển khai đồng loạt ở phạm vi rộng.
Hơn nữa, đối tượng tiếp cận trong nhiều giai đoạn lịch sử còn hạn chế, nhất là trước khi
các trường dành cho Ni giới được định hình hoàn chỉnh. Điều này khiến tiến trình tạo
nguồn nhân lực kế thừa diễn ra chậm, chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của Giáo hội
và xã hội.
Nhìn lại chiều dài lịch sử, mô hình đào tạo truyền thống đã hoàn thành xuất sắc sứ
mệnh lịch sử: bảo toàn hạt nhân đạo hạnh và duy trì mạch truyền thừa thiêng liêng. Song,
trước những bước chuyển vĩ mô của thời đại, các hạn chế trên bộc lộ rõ rệt, trở thành
động lực nội tại thúc đẩy Phật giáo chuyển mình sang mô hình giáo dục có tổ chức, có
cấp bậc và chuẩn mực thống nhất hơn. Việc nhận thức toàn diện cả ưu điểm lẫn hạn chế
của mô hình truyền thống không phải để phủ định mà nhằm khẳng định giá trị nền tảng
của nó trong tiến trình kiến tạo hệ thống giáo dục Phật giáo hiện đại của GHPGVN.
- Sự hình thành hệ thống giáo dục Phật giáo của GHPGVN
2.1. Bối cảnh thành lập GHPGVN
Sự ra đời của GHPGVN vào năm 1981 là kết quả của một tiến trình vận động lịch
sử lâu dài, khế hợp sâu sắc với khát vọng thống nhất tổ chức khi đất nước bước vào kỷ
nguyên hòa bình, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Dù nguyện vọng hợp nhất các sơn môn
hệ phái đã được nhen nhóm từ nhiều thập niên trước, song phải sau cột mốc Đại thắng
11
Khuất Hữu Anh Tuyến, Huỳnh Văn Sơn (2024), “Tổng quan nghiên cứu về giáo dục và đào tạo Phật giáo
và vấn đề vận dụng ở trường Trung cấp Phật học,” Tạp chí Khoa học quản lý giáo dục, số 03 (43), 124-134.10
mùa Xuân năm 1975, khi các điều kiện chủ quan và khách quan thực sự chín muồi để
kiến tạo một ngôi nhà chung cho Phật giáo cả nước.
Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, việc giang sơn thu về một mối đã mở ra một không
gian lịch sử mới cho đạo pháp. Phát huy truyền thống “hộ quốc an dân” và tinh thần
đồng hành cùng dân tộc, chư tôn đức Tăng Ni từ ba miền đã đồng lòng kiến tạo một tổ
chức thống nhất nhằm quy tụ Tăng già, điều phối Phật sự và hiển dương sức mạnh của
đạo Phật trong thời đại mới. Chính từ tâm nguyện hộ đạo giúp đời ấy, đầu năm 1980,
Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập, mở đường cho tiến trình
hiệp thương rộng rãi giữa các hệ phái, hướng tới Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt
Nam năm 1981.12
Trước bước ngoặt năm 1981, Phật giáo nước nhà tồn tại trong thực trạng phân tán
về mặt cơ cấu tổ chức do hệ quả của chiến tranh và sự chia cắt địa lý. Dù các sơn môn,
tổ chức Phật giáo tiền thân ở mỗi miền đều có những đóng góp to lớn cho phong trào
chấn hưng, song sự vận hành rời rạc, cục bộ đã khiến các Phật sự vĩ mô (đặc biệt là công
tác giáo dục Tăng Ni, hoằng pháp và đối ngoại) thiếu đi một trung tâm điều hành thống
nhất. Do đó, yêu cầu thống nhất Giáo hội không chỉ là vấn đề cải tổ bộ máy mà còn là
đòi hỏi từ thực tiễn phát triển của Phật giáo Việt Nam.
Từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 11 năm 1981, Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo
Việt Nam trọng thể diễn ra tại chùa Quán Sứ (Hà Nội) với sự hòa hợp của đại biểu chín
tổ chức, giáo phái, hệ phái trong cả nước. Hội nghị đã thông qua Hiến chương, chính
thức thành lập GHPGVN, suy tôn Hội đồng Chứng minh, suy cử Hội đồng Trị sự và
thiết lập các ban chuyên môn Trung ương, trong đó có Ban Giáo dục Tăng Ni (nay là
Ban Giáo dục Phật giáo). Đây là dấu mốc đặc biệt quan trọng, lần đầu tiên trong lịch sử
hiện đại, Phật giáo Việt Nam có một tổ chức đại diện duy nhất, thống nhất lãnh đạo toàn
thể Tăng Ni, Phật tử toàn quốc về mọi mặt hoạt động trong nước và quốc tế.
Nhìn từ góc độ lịch sử, sự hiện diện của GHPGVN là kết tinh của một chuỗi vận
động liền mạch, khởi phát từ phong trào chấn hưng đầu thế kỷ XX, đi qua các nỗ lực
12
Hà Văn Núi, “30 năm Giáo hội Phật giáo VN: Xây dựng và phát triển trong khối đại đoàn kết dân tộc,”
Báo Điện tử Chính phủ, ngày 24/06/2021, truy cập tại:
https://baochinhphu.vn/30-nam-giao-hoi-phat-giao-vn-xay-dung-va-phat-trien-trong-khoi-dai-doan-ket
dan-toc-10295104.htm11
hợp nhất sau năm 1954 và thăng hoa sau năm 1975. Sự kiện năm 1981 hoàn toàn mang
tính tất yếu lịch sử, giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: hòa hợp nội bộ Tăng
đoàn và thiết lập một cơ cấu tổ chức khế hợp với vận hội mới của đất nước.
Bối cảnh lịch sử này khẳng định một bước ngoặt lớn: Phật giáo Việt Nam bước
sang thời kỳ mới không chỉ với khát vọng bảo tồn truyền thống mà còn với mục tiêu
phát triển trong khuôn khổ một tổ chức hiện đại, có Hiến chương, có hệ thống ban ngành,
có cơ chế điều hành tương đối thống nhất. Đó là tiền đề rất quan trọng để sau năm 1981,
Giáo hội có thể triển khai các chương trình giáo dục Phật học, đào tạo tăng tài và xây
dựng hệ thống học viện, trung cấp, sơ cấp Phật học trên khắp cả nước.13
2.2. Hình thành Ban Giáo dục Tăng Ni
Ngay từ buổi bình minh thành lập năm 1981, GHPGVN đã đặt công tác giáo dục
Tăng Ni vào vị trí cốt lõi trong cấu trúc tổ chức. Nằm trong số sáu ban chuyên ngành
Trung ương đầu tiên của nhiệm kỳ I (1981–1987), sự hiện diện của Ban Giáo dục Tăng
Ni minh chứng cho tầm nhìn chiến lược của Giáo hội: giáo dục chính là trụ cột sinh
mệnh để rèn đúc đội ngũ kế thừa và phát triển Phật sự lâu dài.
Sự hình thành Ban Giáo dục Tăng Ni không đơn thuần là một quyết định hành
chính mà là sự khế hợp với nhu cầu lịch sử của Phật giáo nước nhà sau ngày thống nhất.
Trước năm 1981, do công tác đào tạo diễn ra phân tán tại nhiều sơn môn với quy mô và
giáo trình dị biệt, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có một cơ quan đầu não để điều phối,
chuẩn hóa chương trình và kiến tạo hệ thống học thuật đồng bộ. Sự ra đời của Ban Giáo
dục Tăng Ni chính là lời giải cho bài toán lịch sử đó.
Về mặt chức năng, Ban được giao trọng trách tham mưu, quy hoạch và quản lý
toàn diện nền giáo dục Phật học toàn quốc: từ thiết lập khung chương trình, phê duyệt
mở lớp, hỗ trợ các cơ sở đào tạo, đến định hướng nội dung tu học và phát triển đội ngũ
giảng sư. Qua các nhiệm kỳ, Ban đã khẳng định vai trò chuyên trách quan trọng, quy tụ
13
Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN, “Toàn văn báo cáo thành tựu của GHPGVN trong 40 năm
kể từ ngày thành lập,” Giác Ngộ Online, ngày 03/11/2021, truy cập tại:
https://giacngo.vn/toan-van-bao-cao-thanh-tuu-cua-ghpgvn-trong-40-nam-ke-tu-ngay-thanh-lap
post59415.html12
và kết nối chặt chẽ các cơ sở giáo dục, từng bước định hình hệ thống đào tạo đa tầng
bậc từ Sơ cấp đến Sau Đại học. 14
Một dấu son quan trọng trong tiến trình phát triển của Ban là việc từng bước hoàn
thiện hệ thống quy chế và nội quy hoạt động. Bước đi này đánh dấu sự chuyển dịch căn
bản: giáo dục Phật giáo thoát ly khỏi tính cục bộ, rời rạc tại từng tự viện để vươn lên
thành một lĩnh vực quản trị chuyên nghiệp có nguyên tắc, có tổ chức và định hướng toàn
Giáo hội. Các văn bản như Nội quy Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương nhiệm kỳ VII
(2012–2017) hay Quy chế hoạt động Ban Giáo dục Phật giáo Trung ương GHPGVN
nhiệm kỳ IX (2022–2027) là minh chứng cho quá trình chuyên nghiệp hóa và chuẩn hóa
này.
Có thể nói, sự hình thành Ban Giáo dục Tăng Ni là bước ngoặt quan trọng, thiết
chế chuyên trách này đã tạo bệ phóng vững chắc để Giáo hội chỉ đạo, quản lý và điều
hành sự nghiệp đúc kết Tăng tài trên phạm vi cả nước; giúp Phật giáo Việt Nam vừa
tiệm cận dòng chảy giáo dục hiện đại của thế giới, vừa gìn giữ được nền tảng truyền
thống của mình.
2.3. Xây dựng hệ thống giáo dục nhiều cấp
Kế thừa tinh hoa từ các mô hình tiền thân, GHPGVN đã từng bước thiết lập cấu
trúc giáo dục đa cấp bậc, đa phương thức, tạo nên một lộ trình đào tạo Tăng Ni hoàn
chỉnh, xuyên suốt trên phạm vi cả nước.
Theo các tư liệu chuyên ngành và quy chế của Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương,
hệ thống giáo dục Phật học của GHPGVN được quy hoạch theo ba cấp học nền tảng: Sơ
cấp, Trung cấp và Đại học Phật học. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của hệ Cao đẳng, các
chương trình Sau Đại học tại các Học viện cùng các khóa bồi dưỡng chuyên đề ngắn
hạn (như giảng sư, hoằng pháp, trụ trì, quản trị hành chính và pháp luật) đã làm phong
phú thêm mô hình đào tạo này.
Cấp Sơ cấp Phật học: Thường được tổ chức tại các tự viện lớn hoặc do Ban Trị
sự địa phương điều hành. Đây là nấc thang đầu đời của Tăng Ni trẻ, tập trung rèn đúc
những giá trị căn bản nhất: từ nghiêm trì giới luật, oai nghi tế hạnh, khoa nghi nghi lễ,
14
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Quyết định v/v ban hành Quy chế hoạt động của Ban Giáo dục Phật giáo
Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Số 92/QĐ-HĐTS (21/04/2023).đến các bộ kinh điển nhập môn và văn hóa phổ thông, gắn chặt việc học với đời sống
chấp tác, tu học tại thiền môn.
Cấp Trung cấp Phật học: Được vận hành bài bản dưới sự phối hợp của Ban Trị
sự, Ban Giáo dục Phật giáo tỉnh thành và đội ngũ giảng sư chuyên môn. Là giai đoạn
bản lề để chuẩn hóa tri thức, chương trình học kết hợp hài hòa giữa nội điển và ngoại
điển: từ chuyên sâu Kinh – Luật – Luận, Lịch sử và Văn học Phật giáo đến Triết học,
Ngoại ngữ cùng các môn khoa học bổ trợ.
Cấp Đại học và Sau Đại học: Được đào tạo tập trung tại các Học viện Phật giáo
Việt Nam. Hiện nay, Giáo hội đã phát triển bốn Học viện Phật giáo lớn theo vùng miền:
Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh và Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ.
Đáng chú ý, nền giáo dục Phật giáo đã vươn tầm đỉnh cao khi triển khai thành công
chương trình đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ Phật học tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.
Hồ Chí Minh và tại Hà Nội. Đây là dấu hiệu rõ rệt của quá trình chuẩn hóa và hiện đại
hóa giáo dục Phật giáo trong khuôn khổ GHPGVN.
Song song với hệ thống chính quy, các lớp Cao đẳng, chương trình đào tạo từ xa
và các khóa bồi dưỡng chuyên môn giữ vai trò hộ trợ đắc lực. Phương thức này đặc biệt
thiết thực đối với chư tôn đức Tăng Ni đang dấn thân hành đạo tại địa phương, chư vị
đương nhiệm trụ trì hoặc chuyên trách công tác Giáo hội. Nội dung bồi dưỡng không
chỉ dừng lại ở giáo lý tri thức, mà còn cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng quản trị tự
viện và công tác xã hội, giúp họ hoàn thiện năng lực phụng sự nhân sinh.
Có thể nói, việc xây dựng hệ thống giáo dục nhiều cấp sau năm 1981 là một bước
phát triển có tính chiến lược của GHPGVN. Hệ thống này vừa tiếp nối truyền thống giáo
dục tòng lâm, vừa tiếp thu mô hình đào tạo hiện đại để tạo ra một cơ chế đào tạo tương
đối hoàn chỉnh, liên thông và đa dạng.
2.4. Thành tựu nổi bật
Trải qua hơn bốn thập niên đồng hành cùng sự phát triển của đất nước, sự nghiệp
giáo dục Tăng Ni của GHPGVN đã gặt hái được những thành tựu mang tính bước ngoặt,
đặt nền móng vững chắc cho sự hưng thịnh của Đạo pháp. Những dấu son tiêu biểu bao
gồm:
1314
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống học thuật đa tầng bậc: Giáo hội đã chuyển dịch
thành công từ mô hình lớp học tự phát, đơn lẻ trong những năm đầu sau mốc 1981 thành
một mạng lưới giáo dục hoàn chỉnh, liên thông chặt chẽ từ Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng
đến Đại học và Sau Đại học, phủ rộng khắp các tỉnh thành trên cả nước.
Thứ hai, định hình bốn trung tâm học thuật đỉnh cao: Sự phát triển lớn mạnh
của bốn Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh và Học viện
Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ đã khẳng định vị thế đỉnh cao của giáo dục Phật
giáo nước nhà, đảm nhiệm xuất sắc vai trò đào tạo và cấp bằng Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến
sĩ Phật học.
Thứ ba, sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng và chất lượng: Theo dòng lịch sử,
quy mô đào tạo ngày càng mở rộng. Báo cáo thành tựu 40 năm thành lập Giáo hội ghi
nhận các học viện đã cung ứng cho Đạo pháp hơn 10.000 Tăng Ni tốt nghiệp Cử nhân
Phật học. Mạng lưới các trường Trung cấp, Cao đẳng và Sơ cấp liên tục tạo nguồn học
sinh chất lượng cao, hình thành nên đội ngũ kế thừa tinh anh, uyên bác. 15
Thứ tư, chuẩn hóa hệ thống giáo trình: Bước tiến lớn trong việc biên soạn, thống
nhất sách giáo khoa Phật học căn bản cho hệ Trung cấp toàn quốc đã xóa bỏ tình trạng
đào tạo cát cứ, phân tán. Việc này kiến tạo một mặt bằng tri thức đồng bộ, đưa công tác
giảng dạy thoát ly khỏi kinh nghiệm cục bộ để tiến tới quản trị học thuật nhất quán.
Thứ năm, mở rộng biên độ hội nhập quốc tế: Giáo hội đã chủ động cử hơn 500
Tăng Ni sinh xuất dương tầm học tại các quốc gia học thuật Phật giáo lớn như Ấn Độ,
Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Myanmar, Thái Lan, Sri Lanka, Úc, Mỹ… Đến nay,
gần 300 vị đã tốt nghiệp Thạc sĩ, Tiến sĩ, hồi hương phụng sự Giáo hội, mang lại luồng
sinh khí học thuật mới và nâng cao năng lực đối ngoại quốc tế.
Thứ sáu, kiến tạo đội ngũ giảng viên chuyên nghiệp: GHPGVN đã hình thành
được thế hệ giáo sư, học giả, giảng sư Phật học có hàm lượng tri thức cao. Sự chuyển
dịch từ mô hình truyền thừa nội bộ sơn môn sang hệ thống nghiên cứu khoa học nghiêm
túc là minh chứng cho tư duy giáo dục hiện đại.
15
Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN, “Toàn văn báo cáo thành tựu của GHPGVN trong 40 năm
kể từ ngày thành lập,” Giác Ngộ Online, ngày 03/11/2021, truy cập tại:
https://giacngo.vn/toan-van-bao-cao-thanh-tuu-cua-ghpgvn-trong-40-nam-ke-tu-ngay-thanh-lap
post59415.htmlTừ góc độ tổng thể, thành tựu nổi bật nhất của chặng đường hơn 40 năm qua là sự
hiện diện của một thế hệ Tăng tài mới: thâm nghiêm về giới hạnh, uyên bác về tri thức
và nhạy bén trước thời cuộc. Đây chính là nền tảng để Giáo hội triển khai toàn diện các
công tác hoằng pháp, nghiên cứu, đối ngoại và từ thiện xã hội, làm nên sức sống trường
tồn và vị thế uy nghiêm của GHPGVN trong lòng dân tộc.
- Từ mô hình tòng lâm đến giáo dục Phật giáo hiện đại: Những chuyển biến
căn bản
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, mô hình tòng lâm giữ vai trò nền tảng trong
xuyên suốt nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, từ sau khi GHPGVN thành lập, bối cảnh thời đại
đòi hỏi một sự chuyển dịch mang tính cấu trúc: giáo dục Phật giáo từng bước chuyển
sang mô hình học đường chính quy, có tổ chức chặt chẽ, chương trình đồng bộ, kiểm tra
và học vị minh bạch. Sự chuyển đổi này không phải là sự phủ định truyền thống mà là
quá trình kế thừa rồi hiện đại hóa để đáp ứng yêu cầu mới của Giáo hội và xã hội.
3.1. Chuyển biến về cơ cấu và mô hình đào tạo
Sự hoán chuyển diện mạo rõ rệt nhất của công tác đào tạo Tăng tài chính là bước
đi từ thể chế tòng lâm truyền thống sang hệ thống giáo dục đa cấp bậc và chịu sự quản
lý thống nhất của Giáo hội.
Ở mô hình truyền thống, cơ sở đào tạo thường gắn với một ngôi chùa, một sơn
môn hoặc một vị danh tăng. Mô hình này sở hữu tính linh hoạt cao nhưng quy mô nhỏ,
chương trình học tùy thuộc hoàn toàn vào sở học của người dạy, dẫn đến sự chênh lệch
tri thức giữa các địa phương. Mô hình hiện đại hóa của GHPGVN đã hóa giải thế phân
tán này bằng cách quy chuẩn hóa mạng lưới trường lớp từ Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng
lên đến Học viện và Sau Đại học dưới một đầu mối quản lý chung.
Khác với lối học rời rạc, tùy duyên của giai đoạn trước, cơ cấu đào tạo hiện đại
kiến tạo một lộ trình tích lũy học thuật xuyên suốt. Tăng Ni sinh sau khi hoàn thành bậc
học dưới sẽ có bệ phóng liên thông trực tiếp lên bậc học cao hơn. Quy trình này không
chỉ tối ưu hóa thời gian tu học mà còn bảo đảm rèn đúc nên một thế hệ Tăng tài sở hữu
nền tri thức vững vàng, đủ năng lực đảm đương công tác hoằng pháp và quản trị hành
chính đạo trong kỷ nguyên mới.
153.2. Chuyển biến về mục tiêu, nội dung và phương thức đào tạo
Nếu giáo dục tòng lâm cổ truyền chủ yếu nhằm đào luyện người xuất gia thành
bậc giữ giới, hành trì và nối tiếp truyền thống sơn môn thì giáo dục Phật giáo hiện đại
đặt mục tiêu rộng hơn: đào tạo Tăng Ni vừa có đạo hạnh, vừa có tri thức, vừa có năng
lực hoằng pháp, quản trị và đối thoại với xã hội. Giáo dục Phật giáo hiện nay không chỉ
hướng tới “người tu” mà còn hướng tới “người làm việc trong bối cảnh hiện đại”, có
khả năng sư phạm, nghiên cứu và tham gia hoạt động xã hội.
Về nội dung: ngoài kinh – luật – luận và nghi lễ, chương trình đào tạo ngày càng
bổ sung các môn như lịch sử Phật giáo, triết học, ngoại ngữ, pháp luật, kỹ năng công
nghệ… Đây là bước mở rộng quan trọng, vì nó giúp người học không chỉ thuộc kinh mà
còn hiểu bối cảnh, phương pháp và ứng dụng của giáo lý trong đời sống đương đại.
Về phương thức: mô hình tòng lâm thiên về thân giáo, khẩu truyền và kỷ luật tu
học; còn mô hình hiện đại kết hợp thân giáo với giảng đường, giáo án, học phần, tín chỉ,
thi cử và quản trị học thuật. Sự thay đổi này giúp việc đào tạo có thể kiểm soát chất
lượng tốt hơn và tạo ra sự liên thông giữa các cấp học. Tuy vậy, Giáo hội vẫn cố gắng
giữ lại yếu tố truyền thống như sinh hoạt thiền môn, oai nghi, thực tập giới luật và thời
khóa tu học để bảo đảm bản sắc Phật giáo.
3.3. Chuyển biến về chất lượng nguồn nhân lực và xu hướng hội nhập quốc tế
Một trong những kết quả quan trọng nhất của quá trình hiện đại hóa là sự nâng lên
rõ rệt của chất lượng nguồn nhân lực Phật giáo. Báo chí và các báo cáo của Giáo hội
đều ghi nhận số lượng Tăng Ni tốt nghiệp các hệ đào tạo ngày càng tăng, cho thấy đây
là một quá trình phát triển bền vững chứ không còn là hoạt động tự phát.
Sự nâng cao chất lượng còn thể hiện ở xu hướng hội nhập quốc tế: Giáo hội đã chủ
động cử nhiều Tăng Ni sinh đi du học ở các trung tâm Phật học lớn trong khu vực và thế
giới, đồng thời thu hút Tăng Ni, Phật tử quốc tế đến học tại Việt Nam. Điều này cho thấy
giáo dục Phật giáo Việt Nam không chỉ phục vụ nội bộ mà còn hướng đến vị thế học
thuật khu vực.
Từ tổng thể có thể thấy, chuyển biến từ mô hình tòng lâm sang giáo dục Phật giáo
hiện đại là một quá trình phát triển tất yếu. Giáo dục hiện đại không thay thế hoàn toàn
1617
mô hình cũ mà kế thừa phần tinh hoa của tòng lâm rồi đặt nó trong khung tổ chức mới,
chuyên nghiệp, quy mô và hội nhập hơn. Chính sự kết hợp này đã tạo nền tảng cho công
tác đào tạo Tăng tài của GHPGVN bước vào giai đoạn phát triển sâu rộng trong kỷ
nguyên mới.
- Những vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo Tăng tài hiện nay
4.1. Sự cân bằng giữa học thuật và hành trì
Trong dòng chảy phát triển của đạo Pháp, chất lượng tu chứng của Tăng Ni luôn
là xung lực quyết định sự hưng thịnh của Tăng đoàn. Như lời huấn thị của Đức đệ tứ
Pháp chủ GHPGVN, Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Quảng: Đối với Phật giáo, một
trong những yếu tố quan trọng làm nên sự hưng thịnh đó là chất lượng của Tăng Ni.
Chùa chiền dù xây dựng to lớn như thế nào, nhưng nếu không có Tăng Ni tu tập và
hướng dẫn Phật tử theo đúng Chánh pháp của Phật thì ngôi chùa cũng không có ý
nghĩa.16
Mối quan ngại lớn nhất trong sự hiện đại hóa giáo dục Phật giáo chính là nguy cơ
lệch trục: khi tri thức học thuật được đề cao quá mức mà buông lơi công phu tu tập,
Tăng Ni sinh dễ rơi vào thực trạng “bác học đa văn” nhưng suy vi về định lực. Vì vậy,
giáo dục Tăng tài cần giữ vững tinh thần “văn – tư – tu”. Nếu chỉ chú trọng kiến thức
mà thiếu rèn luyện nội tâm, Tăng Ni sẽ khó phát triển đúng với mục tiêu “Duy Tuệ Thị
Nghiệp” của Phật giáo.
4.2. Yêu cầu chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy
Năng lực của giảng sư là thước đo định hình diện mạo và chất lượng của sản phẩm
giáo dục. Các khảo sát thực tiễn tại hệ thống các trường Trung cấp Phật học hiện nay
chỉ ra rằng: việc phát triển đội ngũ giảng sư theo định hướng chuẩn hóa là một yêu cầu
cấp bách nhằm kiến tạo sự đồng bộ về cơ cấu và nâng cao hàm lượng khoa học trong
giảng dạy. 17
16
Thích Nhật Từ chủ biên (2019), Giáo dục Phật giáo: Bản chất, phương pháp và giá trị, Nxb. Hồng Đức,
Hà Nội.
17
Cao Đại Đoàn, Nguyễn Thị Thu Hằng (2017), “Quản lí hoạt động dạy học tại Học viện Phật giáo Việt
Nam-Thực trạng và giải pháp,” Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 62, 179-186.18
Thực tế đang tồn tại sự chênh lệch khá lớn giữa các cơ sở đào tạo về trình độ
chuyên môn, kỹ năng sư phạm và khả năng cập nhật tri thức mới. Do đó, ngoài đạo hạnh
và uy tín, giảng sư cần được bồi dưỡng thường xuyên về phương pháp giảng dạy, nghiên
cứu Phật học, ngoại ngữ và công nghệ giáo dục. Nếu không có một cơ chế chuẩn hóa rõ
ràng, chất lượng đào tạo sẽ khó đồng đều và khó đáp ứng nhu cầu phát triển lâu dài.18
4.3. Thách thức của hội nhập quốc tế và chuyển đổi số
Xu hướng toàn cầu hóa mở ra biên độ giao lưu học thuật rộng lớn nhưng cũng đặt
giáo dục Phật giáo trước áp lực nâng chuẩn chương trình, rào cản ngôn ngữ và đổi mới
phương thức tiếp cận. Để hiện thực hóa mục tiêu thu hút Tăng Ni sinh quốc tế tầm học
và cử Tăng Ni xuất dương nghiên cứu, hệ thống Học viện trong nước phải tự nâng cấp
năng lực ngoại ngữ học thuật, tư duy nghiên cứu và kỹ năng đối thoại liên văn hóa một
cách tự chủ.
Song hành với hội nhập là làn sóng chuyển đổi số — một xu thế mang tính tất yếu
giúp tối ưu hóa kho học liệu số, tổ chức mô hình giảng đường linh hoạt và nâng cao hiệu
năng quản trị hành chính. Tuy nhiên, chuyển đổi số không thuần túy là số hóa bài giảng
hay đưa lớp học lên không gian mạng; thách thức cốt lõi nằm ở việc thiết lập tư duy mới
về quản trị giáo dục, bảo mật dữ liệu, cũng như nâng cao năng lực thích ứng số của cả
giảng sư lẫn Tăng Ni sinh.
Những vấn đề mang tính thời đại nêu trên đều hội tụ về một tọa độ then chốt: làm
thế nào để giáo dục Tăng tài vừa gìn giữ trọn vẹn chiều sâu tu tập thiền môn, vừa tiệm
cận dòng chảy học thuật đỉnh cao và hội nhập toàn cầu. Việc tìm ra lời giải cho bài toán
này chính là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững và vị thế uy nghiêm của Phật
giáo Việt Nam trong tương lai.
- Định hướng phát triển mô hình đào tạo Tăng tài trong kỷ nguyên mới (2026–
2045)
Bước sang giai đoạn 2026–2045, giáo dục Tăng tài của GHPGVN cần được nhìn
nhận không chỉ như một hoạt động nội bộ của Giáo hội mà còn là một chiến lược phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Sau gần nửa thế kỷ củng cố vững chắc về tổ chức
18
Phạm Văn Dũng (2022), “Thực trạng phát triển đội ngũ giảng sư ở các trường Trung cấp Phật học hiện
nay theo hướng chuẩn hóa,” Tạp chí Giáo dục, số 22(7), 36-40.và mạng lưới cơ sở, trước những làn sóng chuyển dịch mạnh mẽ của thời đại, Giáo hội
đòi hỏi một tầm nhìn xa hơn, đồng bộ và đi vào thực chất hơn.
Định hướng phát triển trong hai thập niên tới không dừng lại ở việc mở rộng số
lượng cơ sở mà trọng tâm cốt lõi là kiến tạo một mô hình đào tạo Tăng tài lưỡng toàn:
vừa bảo tồn bản sắc truyền thống, vừa thích ứng nhạy bén với công nghệ số và bối cảnh
toàn cầu. Tư duy chủ đạo của giáo dục Tăng tài kỷ nguyên mới phải quán triệt sâu sắc
phương châm: “Kế thừa để phát triển, chuẩn hóa để nâng cao, số hóa để hội nhập”.
5.1. Kế thừa và phát huy giá trị của mô hình đào tạo truyền thống trong hệ
thống giáo dục Phật giáo hiện đại
Trước hết, mô hình đào tạo truyền thống cần được xác định là nền tảng tinh thần
và đạo đức của toàn bộ hệ thống giáo dục Phật giáo. Trong lịch sử, tòng lâm không đơn
thuần là nơi truyền thụ kinh điển mà là lò rèn luyện nhân cách của người xuất gia. Chính
không gian tu học khép kín, nghiêm trì giới luật, oai nghi tế hạnh, đời sống cộng trú lục
hòa, chấp tác tự viện và sự thân giáo trực tiếp từ chư tôn đức tôn túc đã hun đúc nên
chiều sâu đạo hạnh của các thế hệ danh tăng Việt Nam.
Tiến trình hiện đại hóa hoàn toàn không đồng nghĩa với việc loại bỏ mô hình cũ
mà là chọn lọc những giá trị bền vững của truyền thống vào cấu trúc học đường mới.
Giá trị lớn nhất của mô hình truyền thống nằm ở chỗ nó tạo ra sự gắn bó giữa học và
hành, giữa tri thức và tu chứng. Nếu giáo dục hiện đại chỉ tập trung vào học thuật mà
quên đi tu tập thì người học rất dễ rơi vào tình trạng có kiến thức nhưng thiếu sức sống
tâm linh. Vì vậy, trong mọi cấp đào tạo, cần duy trì các yếu tố như thiền tập, tụng giới,
thực hành oai nghi, sinh hoạt nội trú và kỷ luật thiền môn.
Trong viễn cảnh 2026–2045, việc kế thừa truyền thống còn đồng nghĩa với việc
khơi thông và phát huy triệt để tinh thần “văn – tư – tu”. Chương trình học hiện đại cần
coi đây là thước đo để thiết kế học phần: học thuật song hành với quán chiếu, kiến thức
đi đôi với tu tập và nghiên cứu không tách rời hành trì.
Một phương diện đặc thù cần bảo lưu là tính nhân văn sâu sắc của nếp sống tòng
lâm. Tại thiền môn, Tăng Ni sinh được giáo hóa bằng chính đạo hạnh của bậc thầy và
tình pháp lữ trong đời sống cộng trú. Mối tương quan thiêng liêng này tạo nên một môi
trường sư phạm đặc thù hoàn toàn khác biệt với giáo dục thế tục của Phật giáo. Vì thế,
1920
dù có phát triển theo hướng hiện đại hóa, giáo dục Tăng tài vẫn cần giữ được tính thiền
môn, sự tĩnh lặng, kỷ cương và đời sống nội tâm sâu sắc như một phần không thể thiếu
của quá trình đào tạo.
Tóm lại, kế thừa mô hình truyền thống không phải là bảo tồn nguyên trạng mà là
giữ lấy “tinh tủy” của giáo dục Phật giáo để nó tiếp tục sống trong hình thức mới. Nếu
làm được điều đó, hệ thống giáo dục hiện đại sẽ không bị khô cứng, hành chính hóa hay
xa rời thực tiễn tu học.
5.2. Chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đào tạo Tăng tài
Bên cạnh việc kế thừa truyền thống, yêu cầu cấp thiết hơn cả trong giai đoạn tới là
chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đào tạo Tăng tài. Dù mạng lưới giáo dục Phật giáo
hiện nay đã đạt biên độ phát triển sâu rộng, song thực tế vẫn tồn tại sự bất cân xứng lớn
giữa các vùng miền và cơ sở. Nhằm khắc phục triệt để tình trạng này, Giáo hội cần triển
khai đồng bộ hệ giải pháp chuẩn hóa trên năm phương diện trọng yếu:
– Chuẩn hóa đội ngũ giảng sư: Giảng sư là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất
lượng nguồn nhân lực đầu ra. Theo các khảo sát thực tiễn, việc phát triển đội ngũ giảng
sư theo hướng chuẩn hóa là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu năng đào tạo. 19 Trong
kỷ nguyên mới, giảng sư không chỉ cần đạo hạnh mà còn phải có kiến thức Phật học
vững, năng lực sư phạm tốt và khả năng nghiên cứu chuẩn.
– Chuẩn hóa khung chương trình: Một hệ thống giáo dục bền vững đòi hỏi phải
thiết lập hệ thống chuẩn đầu ra tường minh cho từng cấp học. Tăng Ni sinh tại mỗi bậc
học cần được định vị rõ ràng các năng lực cốt lõi phải đạt được: từ giới luật oai nghi,
kiến thức Kinh – Luật – Luận đến kỹ năng nghiên cứu và năng lực hoằng pháp. Sự minh
bạch này giúp tinh gọn giáo trình, tránh hiện tượng học dàn trải hoặc thiếu trọng tâm.
– Chuẩn hóa cơ chế khảo thí và đánh giá: Nâng cao chất lượng đào tạo đòi hỏi
một cơ chế kiểm tra và đánh giá học thuật nghiêm túc, đoạn tuyệt với tư duy hành chính
hay điểm danh cơ học. Hệ thống khảo thí mới cần tích hợp đa chiều: đánh giá kết quả
19
Phạm Văn Dũng (2022), “Thực trạng phát triển đội ngũ giảng sư ở các trường Trung cấp Phật học hiện
nay theo hướng chuẩn hóa,” Tạp chí Giáo dục, số 22(7), 36-40.học tập lý thuyết, mức độ tinh tấn trong hành trì tu tập, năng lực thực tế, tư duy nghiên
cứu và tinh thần dấn thân phụng sự Giáo hội.
– Chuẩn hóa năng lực quản lý: Trong thực tế, chất lượng đào tạo phụ thuộc không
chỉ vào giảng sư mà còn vào năng lực của Hội đồng Điều hành, Ban Giáo dục và bộ
phận tổ chức học vụ. Đội ngũ quản lý giáo dục Phật giáo thời đại mới cần dung hợp
nhuần nhuyễn hai yếu tố: sự linh hoạt, nghiêm cẩn của nếp sống thiền môn và tư duy
quản trị khoa học, minh bạch của học đường hiện đại.
– Xây dựng trục liên thông học thuật: Về tầm nhìn dài hạn, Giáo hội cần khơi
thông mạng lưới kết nối chặt chẽ giữa các trường Trung cấp, Cao đẳng và các Học viện.
Lộ trình học tập liên thông xuyên suốt này sẽ hạn chế tối đa sự đứt gãy tri thức giữa các
bậc học, bảo đảm tính kế thừa ổn định và liên tục của nguồn Tăng tài.
5.3. Thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục Phật giáo
Trong kỷ nguyên mới, chuyển đổi số không còn là một lựa chọn công nghệ đơn
thuần mà đã trở thành định hướng chiến lược bắt buộc nhằm kiến tạo mô hình giáo dục
Phật giáo thông minh. Đối với một hệ thống đào tạo có phạm vi trải dài trên toàn quốc
như GHPGVN, việc ứng dụng công nghệ số là cơ hội mang tính bước ngoặt để chia sẻ
tài nguyên học thuật, xóa nhòa khoảng cách địa lý, kết nối giảng sư – Tăng Ni sinh toàn
cầu và tối ưu hóa hiệu năng quản trị hành chính.
Tuy nhiên, chuyển đổi số trong giáo dục Phật giáo cần thoát ly khỏi tư duy đơn
giản là đưa bài giảng lên mạng hay sử dụng các phần mềm thay thế lớp học trực tiếp.
Mục tiêu cốt lõi là thiết lập một hệ sinh thái số đồng bộ, chuyên biệt, khế hợp với đặc
thù thiền môn. Hệ sinh thái này phải tích hợp toàn diện: từ hệ thống thư viện số, kho học
liệu điện tử đến các diễn đàn học thuật liên kết chặt chẽ giữa các Học viện, trường Trung
cấp và các tự viện lớn trên cả nước.
Để hiện thực hóa tầm nhìn này, việc nâng cao năng lực thích ứng số của đội ngũ
giảng sư và Tăng Ni sinh là điều kiện tiên quyết. Nếu thiếu kỹ năng tổ chức học liệu số
hay phương pháp sư phạm tương tác trực tuyến, công nghệ sẽ chỉ dừng lại ở tính hình
thức. Vì vậy, Giáo hội cần có chương trình tập huấn thường xuyên về công nghệ giáo
dục, quản trị dữ liệu, biên soạn học liệu số và an toàn thông tin. Đây không phải là việc
phụ mà là một phần của chuẩn hóa giáo dục Phật giáo trong thời đại mới.
2122
Về mặt biên độ, chuyển đổi số mở ra cơ hội bình đẳng học thuật cho số đông.
Trong tương lai, nhiều Tăng Ni ở vùng sâu, vùng xa hoặc các vị khó có điều kiện học
tập trung dài hạn có thể tham gia các hình thức học kết hợp. Bên cạnh đó, các chương
trình trao đổi học thuật trực tuyến cũng giúp Phật giáo Việt Nam kết nối tốt hơn với các
trung tâm Phật học quốc tế. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng học tập mà còn
tăng cường vị thế của Phật giáo Việt Nam trong mạng lưới học thuật toàn cầu.
Dù vậy, chuyển đổi số phải luôn đặt dưới nguyên tắc: công nghệ phục vụ cho tu
học, chứ không làm loãng đời sống thiền môn. Việc số hóa phải đi đôi với giữ gìn sự
tĩnh lặng, kỷ luật và chiều sâu thực hành, để công nghệ không làm mất đi bản sắc của
môi trường đào tạo Tăng tài.
5.4. Kết nối ba định hướng
Ba định hướng chiến lược nêu trên thực chất là những thành phần gắn kết hữu cơ
và bổ sung mật thiết cho nhau. Mối quan hệ kiềng ba chân này nếu khuyết đi bất kỳ đỉnh
góc nào cũng sẽ dẫn đến sự bất toàn của hệ thống:
– Nếu chỉ thuần túy bảo thủ truyền thống mà khước từ chuẩn hóa, giáo dục Phật
giáo sẽ rơi vào trạng thái trì trệ, dừng lại ở mô hình cục bộ cũ.
– Nếu chỉ cực đoan chuẩn hóa học thuật mà thiếu vắng nền tảng tu tập thiền môn,
giáo dục sẽ bị hành chính hóa, khô cứng và thế tục hóa.
– Nếu chỉ chạy theo làn sóng số hóa công nghệ mà buông lơi công phu thực nghiệm
hành trì, giáo dục sẽ hoàn toàn đánh mất bản hoài Chánh pháp.
Do đó, mô hình đào tạo Tăng tài giai đoạn 2026–2045 cần được xây dựng như một
hệ thống tổng hòa, trong đó truyền thống là gốc, chuẩn hóa là khung và chuyển đổi số
là công cụ hỗ trợ. Đây chính là cách để GHPGVN đào tạo được một thế hệ Tăng Ni vừa
có đạo hạnh, vừa có trí tuệ, vừa có năng lực phụng sự trong thời đại mới.23
KẾT LUẬN
Trải qua gần nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành, giáo dục Phật giáo đã khẳng
định vai trò xương sống trong tiến trình củng cố và phát triển vững mạnh của Giáo hội
Phật giáo Việt Nam. Từ xuất phát điểm kế thừa các mô hình tòng lâm và Phật học viện
phân tán trước năm 1981, GHPGVN đến nay đã kiến tạo thành công hệ thống học thuật
chính quy, quy mô và hoàn chỉnh từ Sơ cấp đến Sau Đại học. Thành tựu cốt lõi này
không thuần túy nằm ở số lượng cơ sở mà ở việc rèn đúc nên một thế hệ Tăng Ni mới
sở hữu nền tri thức cao, lưỡng toàn về cả đạo hạnh lẫn năng lực học thuật hiện đại.
Trong kỷ nguyên mới, chiến lược phát triển giáo dục Phật giáo bắt buộc phải vận
hành nhịp nhàng trên thế kiềng ba chân: Kế thừa truyền thống (giữ vững giới luật, oai
nghi, thân giáo và nguyên lý Văn – Tư – Tu làm gốc rễ); Đổi mới cấu trúc (chuẩn hóa
chương trình, nâng chất lượng giảng sư và khoa học hóa quản trị làm khung sườn); và
Thúc đẩy hội nhập (nhạy bén chuyển đổi số, mở rộng hợp tác học thuật làm công cụ).
Tựu trung, giáo dục Tăng tài chính là nguồn năng lượng và sức mạnh nội sinh
quyết định sinh mệnh lâu dài của Giáo hội. Tiếp tục đầu tư chiều sâu cho công tác đào
tạo này là đại kế bảo đảm cho Phật giáo Việt Nam vừa giữ trọn bản sắc, vừa tự tại dung
hợp và tỏa sáng cùng thời đại.TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. (03/11/2021).
Toàn văn báo cáo thành tựu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong 40 năm kể từ ngày
thành lập. Giác Ngộ Online. https://giacngo.vn/toan-van-bao-cao-thanh-tuu-cua
ghpgvn-trong-40-nam-ke-tu-ngay-thanh-lap-post59415.html
- Cao Đại Đoàn, & Nguyễn Thị Thu Hằng. (2017). Quản lí hoạt động dạy học tại
Học viện Phật giáo Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Khoa học, Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội, 62, 179–186.
- Dương Thanh Mừng. (16/12/2012). Phong trào chấn hưng Phật giáo qua vai
trò của Hội An Nam Phật học (1932–1945).
Phatgiao.org.vn.
https://phatgiao.org.vn/phong-trao-chan-hung-phat-giao-qua-vai-tro-cua-hoi-an-nam
phat-hoc-1932–1945-d8937.html
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam. (21/04/2023). Quyết định về việc ban hành Quy
chế hoạt động của Ban Giáo dục Phật giáo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
(Số 92/QĐ-HĐTS).
- Hà Văn Núi. (24/06/2021). 30 năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Xây dựng và
phát triển trong khối đại đoàn kết dân tộc. Báo Điện tử Chính phủ.
https://baochinhphu.vn/30-nam-giao-hoi-phat-giao-vn-xay-dung-va-phat-trien-trong
khoi-dai-doan-ket-dan-toc-10295104.htm
- Hòa thượng Thích Trí Hải. (2004). Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam.
Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội.
- Khuất Hữu Anh Tuyến, & Huỳnh Văn Sơn. (2024). Tổng quan nghiên cứu về
giáo dục và đào tạo Phật giáo và vấn đề vận dụng ở trường Trung cấp Phật học. Tạp chí
Khoa học Quản lý Giáo dục, 3(43), 124–134.
- Nguyễn Đại Đồng. (2012). Phật giáo Việt Nam (Từ khởi nguyên đến năm 1981).
Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội.
- Nguyễn Tài Thư (Chủ biên). (1988). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nhà xuất bản
Khoa học Xã hội, Hà Nội.10. Phạm Văn Dũng. (2022). Thực trạng phát triển đội ngũ giảng sư ở các trường
Trung cấp Phật học hiện nay theo hướng chuẩn hóa. Tạp chí Giáo dục, 22(7), 36–40.
- Pháp sư Truyền Minh. (2010). So sánh hệ thống giáo dục Phật giáo. Hội thảo
giao lưu Phật giáo Mân Đài lần thứ 2.
- Phật Tử Việt Nam. (25/9/2019). Công tác giáo dục tăng ni ở Hội Phật giáo
Bắc Kỳ. https://www.phattuvietnam.net/cong-tac-giao-duc-tang-ni-o-hoi-phat-giao
bac-ky/
- Tạp chí Nghiên cứu Phật học. (08/01/2025). Quy chế hoạt động của Ban Giáo
dục Phật giáo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
https://tapchinghiencuuphathoc.vn/quy-che-hoat-dong-cua-ban-giao-duc-phat-giao-t
u-giao-hoi-phat-giao-viet-nam.html
- Thích Nhật Từ (Chủ biên). (2019). Giáo dục Phật giáo: Bản chất, phương pháp
và giá trị. Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội.
- Trí Không. (2009). Tổ đình Ấn Quang và lịch sử phát đạt của Phật giáo Việt
Nam từ năm 1950 trở đi. Tu viện Huệ Quang, TP. Hồ Chí Minh.
