Phật Giáo Tây Ninh
  • Trang chủ
  • Thủ Tục Hồ Sơ
  • Tin Tức
    • Phật Giáo Tây Ninh
    • Phật Giáo Trong Nước
  • Ban ngành
    • Tăng sự
    • Giáo dục Phật giáo
    • Hoằng pháp
    • Hướng dẫn Phật tử
    • Văn hóa
    • Nghi lễ
    • Từ thiện Xã hội
    • Thông tin Truyền thông
    • Pháp chế
    • Kiểm soát
    • Phật giáo Quốc tế
  • Huyện Thị
    • Tp Tân An
    • Bến Lức
    • Cần Đước
    • Cần Giuộc
    • Châu Thành
    • Đức Hòa
    • Đức Huệ
    • Tân Thạnh
    • Tân Trụ
    • Thủ Thừa
    • Thạnh Hóa
    • Mộc Hóa
    • Vĩnh Hưng
  • Bài Học Đạo Lý
  • Vấn Đáp
    • Ăn Chay – Phóng Sanh
    • Căn Bản
    • Nhân Sanh – Thế Giới – Vũ Trụ Quan
    • Giới Luật
    • Nghi Thức
    • Lịch Sử Phật Giáo
    • Tịnh Tông
    • Thiền Tông
    • Tịnh Tông
    • Mật Tông
  • Lịch sử -Tự viện
  • Pháp âm – Kinh sách
  • Thông báo
No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Thủ Tục Hồ Sơ
  • Tin Tức
    • Phật Giáo Tây Ninh
    • Phật Giáo Trong Nước
  • Ban ngành
    • Tăng sự
    • Giáo dục Phật giáo
    • Hoằng pháp
    • Hướng dẫn Phật tử
    • Văn hóa
    • Nghi lễ
    • Từ thiện Xã hội
    • Thông tin Truyền thông
    • Pháp chế
    • Kiểm soát
    • Phật giáo Quốc tế
  • Huyện Thị
    • Tp Tân An
    • Bến Lức
    • Cần Đước
    • Cần Giuộc
    • Châu Thành
    • Đức Hòa
    • Đức Huệ
    • Tân Thạnh
    • Tân Trụ
    • Thủ Thừa
    • Thạnh Hóa
    • Mộc Hóa
    • Vĩnh Hưng
  • Bài Học Đạo Lý
  • Vấn Đáp
    • Ăn Chay – Phóng Sanh
    • Căn Bản
    • Nhân Sanh – Thế Giới – Vũ Trụ Quan
    • Giới Luật
    • Nghi Thức
    • Lịch Sử Phật Giáo
    • Tịnh Tông
    • Thiền Tông
    • Tịnh Tông
    • Mật Tông
  • Lịch sử -Tự viện
  • Pháp âm – Kinh sách
  • Thông báo
No Result
View All Result
Phật Giáo Tây Ninh
No Result
View All Result

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BAN HOẰNG PHÁP TRUNG ƯƠNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM (1981–2027)

by Huệ Thông
30/10/2026
in Hoằng pháp, Ban ngành

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

BAN HOẰNG PHÁP TRUNG ƯƠNG

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM (1981–2027)

❖  ❖  ❖

Hòa thượng Thích Minh Thiện

Ủy viên Hội đồng Trị sự

Phó Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương GHPGVN

Tóm tắt: Kể từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981, công tác hoằng pháp luôn giữ vai trò trọng tâm trong chiến lược phát triển và phụng sự đạo pháp, dân tộc. Qua chín nhiệm kỳ (1981–2027), Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam từng bước kiện toàn tổ chức, mở rộng đội ngũ giảng sư và đổi mới phương thức hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu tu học của Tăng Ni, Phật tử trong bối cảnh xã hội hiện đại. Bài viết khảo cứu quá trình hình thành, phát triển và những dấu ấn nổi bật của Ban Hoằng pháp Trung ương trên các phương diện tổ chức, nhân sự và hoạt động hoằng pháp qua từng nhiệm kỳ. Trên cơ sở phân tích tư liệu lịch sử, văn kiện Giáo hội và thực tiễn hoạt động, bài viết cho thấy công tác hoằng pháp đã chuyển từ hình thức thuyết giảng truyền thống sang mô hình truyền thông đa phương tiện, ứng dụng công nghệ số và mở rộng phạm vi tiếp cận cộng đồng. Đồng thời, Ban Hoằng pháp Trung ương tích cực đào tạo giảng sư, tổ chức khóa tu, chương trình giáo dục Phật pháp và các hoạt động hướng đến nhiều tầng lớp xã hội. Qua đó, bài viết khẳng định vai trò của Ban Hoằng pháp Trung ương trong việc duy trì, phát huy giá trị Phật giáo Việt Nam và đồng hành cùng sự phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập.

Từ khóa: Hoằng pháp, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Hoằng pháp Trung ương, giảng sư, lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Keywords: Dharma propagation, Vietnam Buddhist Sangha, Central Dharma Propagation Board, Buddhist preachers, history of Vietnamese Buddhism.

1. DẪN NHẬP

Trong lịch sử Phật giáo, hoằng pháp luôn giữ vị trí trung tâm trong sứ mệnh của Tăng đoàn, nhằm truyền bá giáo lý, hướng dẫn tu học và xây dựng đời sống đạo đức cho cộng đồng. Tinh thần ấy được khởi nguồn từ lời dạy của đức Phật: “Hãy đi, này các Tỳ-kheo, vì lợi ích số đông, vì an lạc số đông”, trở thành nền tảng cho mọi hoạt động truyền bá chánh pháp. Tại Việt Nam, sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính thức thành lập ngày 07/11/1981 tại Chùa Quán Sứ, Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam được xác lập là một trong những ban ngành trọng yếu của Giáo hội, đảm nhiệm vai trò tổ chức và triển khai các hoạt động hoằng pháp trên phạm vi cả nước.[1] Trải qua chín nhiệm kỳ (1981–2027), Ban Hoằng pháp Trung ương từng bước kiện toàn cơ cấu tổ chức, phát triển đội ngũ giảng sư và đổi mới phương thức truyền bá Phật pháp phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Từ bối cảnh khó khăn sau chiến tranh đến thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số, công tác hoằng pháp không chỉ góp phần duy trì giá trị truyền thống của Phật giáo Việt Nam mà còn tăng cường sự gắn kết giữa đạo pháp và đời sống xã hội đương đại.

Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp phân tích và tổng hợp tư liệu nhằm khảo cứu quá trình hình thành, phát triển của Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam qua các nhiệm kỳ từ năm 1981 đến 2027. Nguồn tư liệu chủ yếu bao gồm văn kiện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, báo cáo tổng kết nhiệm kỳ, tài liệu lưu trữ, các công trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam cùng những tư liệu liên quan đến hoạt động hoằng pháp trong từng giai đoạn lịch sử. Trên cơ sở đó, bài viết tiến hành đối chiếu, hệ thống hóa và đánh giá những chuyển biến về tổ chức, nhân sự và phương thức hoạt động hoằng pháp trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại.

2. NỘI DUNG VÀ THẢO LUẬN

2.1. Giai đoạn hình thành và đặt nền móng (1981–2007)

2.1.1. Nhiệm kỳ I (1981–1987): Khởi dựng nền móng tổ chức

Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập tại Chùa Quán Sứ năm 1981, Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính thức được thiết lập như một cơ quan chuyên trách về công tác truyền bá Phật pháp trong hệ thống Giáo hội. Tại Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo toàn quốc lần thứ nhất, Thích Trí Quảng được cung thỉnh đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương đầu tiên, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của ngành hoằng pháp trong giai đoạn mới của Phật giáo Việt Nam thống nhất.

Bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thập niên 1980 còn chịu nhiều ảnh hưởng từ hậu quả chiến tranh, đời sống kinh tế khó khăn và sinh hoạt tôn giáo đang trong quá trình ổn định sau nhiều biến động lịch sử. Trong điều kiện ấy, hoạt động hoằng pháp không chỉ mang ý nghĩa truyền bá giáo lý mà còn góp phần củng cố niềm tin tôn giáo, ổn định đời sống tinh thần và tăng cường sự gắn kết của cộng đồng Phật tử trên phạm vi cả nước. Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm của Ban Hoằng pháp Trung ương trong nhiệm kỳ đầu tiên tập trung vào việc xây dựng nền tảng tổ chức và phục hồi sinh hoạt tu học sau thời kỳ gián đoạn kéo dài.

Trên phương diện tổ chức, Ban Hoằng pháp từng bước thiết lập hệ thống hoạt động từ Trung ương đến địa phương, tạo sự liên kết giữa các tỉnh, thành hội Phật giáo trong cả nước. Đồng thời, Giáo hội chú trọng tập hợp và đào tạo đội ngũ giảng sư thuộc ba miền Bắc, Trung, Nam nhằm hình thành lực lượng nòng cốt cho công tác truyền bá Phật pháp. Song song đó, nhiều đạo tràng cư sĩ, lớp giáo lý căn bản và các khóa giảng Phật pháp được từng bước khôi phục tại các tự viện, đáp ứng nhu cầu tu học ngày càng gia tăng của Tăng Ni và Phật tử sau khi đất nước thống nhất.

Có thể nhận định rằng, giai đoạn 1981–1987 là thời kỳ “khởi dựng nền móng” của ngành hoằng pháp trong lòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Dù điều kiện vật chất và cơ sở tổ chức còn hạn chế, Ban Hoằng pháp Trung ương đã đặt nền tảng quan trọng cho việc hình thành hệ thống hoằng pháp thống nhất trên phạm vi toàn quốc, tạo tiền đề cho sự phát triển chuyên sâu và mở rộng của công tác hoằng pháp trong các nhiệm kỳ tiếp theo.[2]

2.1.2. Nhiệm kỳ II–III–IV–V (1987–2007): Củng cố tổ chức và phát triển hệ thống hoằng pháp

Từ nhiệm kỳ II đến nhiệm kỳ V của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, công tác hoằng pháp bước vào giai đoạn phát triển ổn định và từng bước chuyên môn hóa. Trong suốt bốn nhiệm kỳ liên tiếp, Thích Trí Quảng tiếp tục đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương, góp phần duy trì tính liên tục trong định hướng hoạt động và xây dựng nền tảng tổ chức cho ngành hoằng pháp trên phạm vi toàn quốc. Nếu nhiệm kỳ I tập trung vào việc khôi phục sinh hoạt tu học sau thời kỳ chiến tranh, thì giai đoạn 1987–2007 đánh dấu bước chuyển quan trọng từ quá trình “ổn định và tái thiết” sang “phát triển có hệ thống”.

Một trong những trọng tâm của giai đoạn này là xây dựng và chuẩn hóa đội ngũ giảng sư. Ban Hoằng pháp Trung ương từng bước tổ chức các khóa bồi dưỡng giảng sư cấp khu vực và toàn quốc nhằm nâng cao trình độ giáo lý, kỹ năng thuyết giảng và phương pháp truyền đạt Phật pháp trong bối cảnh xã hội đổi mới. Nội dung hoằng pháp cũng được điều chỉnh theo hướng đa dạng hóa đối tượng tiếp nhận, hướng đến Tăng Ni trẻ, cư sĩ Phật tử, thanh thiếu niên, học sinh và sinh viên. Sự thay đổi này cho thấy nhận thức ngày càng rõ nét của Giáo hội về vai trò giáo dục xã hội của Phật giáo trong thời kỳ đổi mới đất nước.

Bên cạnh việc kiện toàn nhân sự, Ban Hoằng pháp Trung ương còn chú trọng mở rộng phạm vi hoạt động đến các khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới và hải đảo. Nhiều đoàn giảng sư lưu động được tổ chức tại Tây Nguyên, Nam Bộ và các địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần đưa Phật pháp đến với những cộng đồng còn hạn chế điều kiện tiếp cận sinh hoạt tôn giáo và giáo dục Phật học. Hoạt động này không chỉ mang ý nghĩa hoằng truyền giáo lý mà còn góp phần củng cố đời sống văn hóa, đạo đức và tinh thần trong cộng đồng địa phương.

Song song với hoạt động giảng dạy và tổ chức đạo tràng, công tác biên soạn tài liệu giáo lý cũng được đẩy mạnh. Nhiều bộ giáo trình Phật học căn bản dành cho cư sĩ và các lớp giáo lý phổ thông được hình thành trong giai đoạn này, tạo cơ sở cho việc thống nhất nội dung giảng dạy trong hệ thống hoằng pháp cả nước. Đây được xem là bước chuẩn bị quan trọng cho quá trình xây dựng hệ thống giáo dục và hoằng pháp mang tính quy củ trong các nhiệm kỳ sau.[3]

Nhìn tổng thể, giai đoạn 1987–2007 đánh dấu quá trình củng cố tổ chức, mở rộng phạm vi ảnh hưởng và nâng cao tính chuyên nghiệp của công tác hoằng pháp trong lòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Những thành quả đạt được trong thời kỳ này đã tạo nền tảng quan trọng cho sự chuyển mình mạnh mẽ của ngành hoằng pháp trong bối cảnh hội nhập và hiện đại hóa ở các giai đoạn tiếp theo.

2.2. Giai đoạn đổi mới và chuyên nghiệp hóa (2007–2012)

2.2.1. Nhiệm kỳ VI (2007–2012): Đổi mới tư duy tổ chức

Bước vào thế kỷ XXI, trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền thông, công tác hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam chuyển dần sang giai đoạn đổi mới về tư duy tổ chức và chuyên nghiệp hóa hoạt động. Nhiệm kỳ VI (2007–2012) của Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam được xem là giai đoạn bản lề, đánh dấu sự chuyển dịch từ mô hình hoằng pháp truyền thống sang mô hình quản trị mang tính hệ thống và chuyên môn hóa cao hơn. Dưới sự định hướng của Thích Trí Quảng cùng tập thể Ban lãnh đạo, công tác hoằng pháp được tái cấu trúc theo hướng tăng cường tính hiệu quả, tính phối hợp liên vùng và khả năng thích ứng với nhu cầu xã hội đương đại.

Theo các văn kiện tổng kết của Ban Hoằng pháp Trung ương, giai đoạn này ghi nhận sự triển khai đồng bộ nhiều hoạt động mang tính cải cách trong phương thức tổ chức và đào tạo giảng sư. Các hội thảo hoằng pháp quy mô toàn quốc được tổ chức nhằm trao đổi học thuật, thống nhất phương pháp thuyết giảng và nâng cao chất lượng truyền bá giáo lý. Đồng thời, mô hình “Giảng sư đoàn Trung ương” từng bước được chuẩn hóa, góp phần hình thành lực lượng giảng sư nòng cốt có tính hệ thống, phục vụ công tác hoằng pháp trên phạm vi cả nước.

Bên cạnh đó, công tác đào tạo kỹ năng thuyết giảng được chú trọng theo hướng hiện đại hóa, không chỉ tập trung vào nội dung giáo lý mà còn mở rộng sang phương pháp sư phạm, kỹ năng giao tiếp và ứng dụng phương tiện truyền thông. Đây là bước tiến quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoằng pháp, phù hợp với yêu cầu tiếp cận đa dạng đối tượng xã hội, đặc biệt là giới trẻ trong bối cảnh xã hội thông tin phát triển mạnh.

Một điểm nổi bật khác của giai đoạn này là sự tăng cường kết nối giữa hoạt động hoằng pháp và truyền thông Phật giáo. Các phương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình và bước đầu là các nền tảng kỹ thuật số được khai thác như công cụ hỗ trợ lan tỏa giáo lý, góp phần mở rộng không gian hoằng pháp ra ngoài phạm vi tự viện truyền thống.

Có thể khái quát rằng, nhiệm kỳ VI (2007–2012) đã đặt nền móng cho quá trình chuyển đổi mô hình hoạt động của Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam theo hướng quản trị hiện đại, trong đó nhấn mạnh ba trụ cột chính: chuẩn hóa đội ngũ giảng sư, đổi mới phương pháp thuyết giảng và tích hợp truyền thông vào công tác hoằng pháp. Về mặt cấu trúc, quá trình này có thể được khái quát như một mô hình chuyển đổi từ “hoằng pháp nội tự viện” sang “hoằng pháp mở rộng xã hội”, trong đó các thành tố tổ chức – nhân sự – truyền thông được vận hành theo hướng liên kết chặt chẽ và có tính hệ thống hơn.[4]

2.3. Giai đoạn hiện đại hóa và hội nhập (2012–2027)

2.3.1. Nhiệm kỳ VII–VIII (2012–2022): Hiện đại hóa phương thức hoằng pháp

Từ năm 2012, Thích Bảo Nghiêm đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, mở ra giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa và thích ứng với bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong giai đoạn này, Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tập trung nâng cao chất lượng tổ chức, chuẩn hóa đội ngũ giảng sư và mở rộng phương thức truyền bá giáo pháp phù hợp với sự phát triển của xã hội số.

Trên phương diện đào tạo nhân sự, Ban Hoằng pháp Trung ương đẩy mạnh việc tổ chức các khóa bồi dưỡng, cập nhật và nâng cao năng lực giảng dạy cho giảng sư trên phạm vi toàn quốc. Nội dung đào tạo không chỉ dừng lại ở giáo lý Phật học mà còn mở rộng sang phương pháp sư phạm, kỹ năng truyền thông và khả năng thích ứng với môi trường hoằng pháp đa nền tảng, qua đó góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ giảng sư.

Đặc biệt, trong giai đoạn đại dịch COVID-19, công tác hoằng pháp đã có bước chuyển đổi mang tính đột phá khi các hoạt động thuyết giảng trực tuyến được triển khai rộng rãi thông qua các nền tảng công nghệ số. Việc ứng dụng không gian mạng trong truyền bá giáo lý không chỉ giúp duy trì hoạt động hoằng pháp trong điều kiện giãn cách xã hội, mà còn mở rộng phạm vi tiếp cận đến đông đảo Phật tử trong và ngoài nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển của công tác hoằng pháp hiện đại.[5]

Bên cạnh đó, Ban Hoằng pháp Trung ương cũng chú trọng mở rộng đối tượng tiếp cận, đặc biệt hướng đến thanh thiếu niên, sinh viên và giới doanh nhân Phật tử thông qua các chương trình sinh hoạt chuyên đề, tọa đàm và khóa tu ngắn hạn. Điều này phản ánh xu hướng thích ứng của hoằng pháp đối với nhu cầu đa dạng của xã hội đương đại, đồng thời góp phần tăng cường tính lan tỏa của Phật giáo trong đời sống hiện đại.

2.3.2. Nhiệm kỳ IX (2022–2027): Tái cấu trúc và chuyên môn hóa sâu

Bước sang nhiệm kỳ IX (2022–2027), Thích Bảo Nghiêm tiếp tục được suy cử giữ chức Trưởng ban, tiếp nối định hướng hiện đại hóa và phát triển chiều sâu của công tác hoằng pháp trong hệ thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Giai đoạn này ghi nhận xu hướng tái cấu trúc tổ chức theo hướng chuyên môn hóa, phân định rõ các lĩnh vực hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và triển khai.

Theo đó, hệ thống Ban Hoằng pháp Trung ương được tổ chức thành các phân ban chuyên ngành, bao gồm các lĩnh vực như giảng sư, hoằng pháp thanh thiếu niên, hoằng pháp vùng sâu vùng xa, hoằng pháp số, hoằng pháp hải ngoại, truyền thông hoằng pháp, cũng như nghiên cứu và biên soạn giáo trình. Việc phân hóa chức năng này cho thấy sự phát triển theo hướng chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu đa dạng của công tác hoằng pháp trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số.

Đồng thời, định hướng xây dựng mô hình “Học viện Hoằng pháp” được đặt ra như một chiến lược dài hạn, nhằm chuẩn hóa quy trình đào tạo, nghiên cứu và phát triển đội ngũ giảng sư trong tương lai. Đây không chỉ là bước tiến về mặt tổ chức, mà còn phản ánh tầm nhìn chiến lược của Giáo hội trong việc xây dựng một hệ thống hoằng pháp có tính học thuật, chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế.[6]

2.4. Nhận định và triển vọng

Nhìn lại tiến trình phát triển của Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong mối quan hệ với Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ năm 1981 đến 2027 có thể nhận thấy một tiến trình vận động mang tính quy luật, từ thiết lập nền tảng đến hiện đại hóa và hội nhập. Trên cơ sở phân tích lịch sử tổ chức, phương thức hoạt động và chuyển biến xã hội, có thể khái quát ba giai đoạn phát triển mang tính cấu trúc như sau:

  • 1981–2007: Giai đoạn hình thành và ổn định tổ chức, tập trung khôi phục sinh hoạt hoằng pháp sau biến động lịch sử, xây dựng hệ thống giảng sư và thiết lập mạng lưới cơ sở.
  • 2007–2012: Giai đoạn đổi mới và chuyên nghiệp hóa, đánh dấu sự chuẩn hóa mô hình giảng sư đoàn, tăng cường đào tạo và bước đầu tích hợp truyền thông.
  • 2012–2027: Giai đoạn hiện đại hóa, số hóa và hội nhập quốc tế, nổi bật với hoằng pháp trực tuyến, tái cấu trúc phân ban chuyên ngành và mở rộng không gian truyền thông đa nền tảng.

Có thể hình dung tiến trình này theo mô hình phát triển ba tầng:

TẦNG 3 Hoằng pháp số – hội nhập – quốc tế hóa 2012–2027
TẦNG 2 Chuyên nghiệp hóa – chuẩn hóa hệ thống 2007–2012
TẦNG 1 Hình thành – phục hồi – thiết lập nền móng 1981–2007

Mô hình ba tầng phát triển của công tác hoằng pháp (đọc từ dưới lên)

Từ góc độ lý luận tổ chức, sự phát triển của Ban Hoằng pháp Trung ương phản ánh rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình “tự viện trung tâm” sang mô hình “mạng lưới hoằng pháp xã hội”, trong đó ba yếu tố cốt lõi gồm nhân sự – phương pháp – công nghệ được tái cấu trúc theo hướng tích hợp. Đặc biệt, giai đoạn sau năm 2012 cho thấy mức độ gia tăng rõ rệt của yếu tố công nghệ, khi hoằng pháp trực tuyến trở thành kênh truyền tải chủ đạo bên cạnh hình thức thuyết giảng truyền thống. Theo tổng hợp từ các báo cáo hoạt động, tỷ lệ chương trình hoằng pháp có ứng dụng nền tảng số trong giai đoạn COVID-19 (2020–2022) ước đạt trên 70% tổng số hoạt động giảng pháp toàn quốc, phản ánh sự thay đổi mang tính cấu trúc trong phương thức truyền bá giáo lý.[7]

Từ góc nhìn học thuật, quá trình này có thể được lý giải bằng mô hình “thích ứng kép”:

① thích ứng nội tại của tổ chức tôn giáo trước biến đổi xã hội;

② thích ứng ngoại sinh trước sự phát triển của công nghệ truyền thông và nhu cầu đa dạng hóa tiếp cận của quần chúng Phật tử.

Về triển vọng, công tác hoằng pháp trong giai đoạn tiếp theo có xu hướng phát triển theo ba hướng chính:

Thứ nhất, chuyển đổi số toàn diện, trong đó hoằng pháp trực tuyến, thư viện số Phật học và nền tảng học tập trực tuyến sẽ trở thành hạ tầng cơ bản của hệ thống hoằng pháp hiện đại.

Thứ hai, chuẩn hóa và quốc tế hóa đội ngũ giảng sư, hướng đến xây dựng lực lượng có khả năng hoằng pháp đa ngôn ngữ, phục vụ cộng đồng Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước.

Thứ ba, tích hợp liên ngành, kết nối hoằng pháp với giáo dục, công tác xã hội và truyền thông, qua đó mở rộng vai trò của Phật giáo như một thiết chế văn hóa – giáo dục trong xã hội đương đại.

Từ mô hình hoằng pháp truyền thống chủ yếu diễn ra tại các tự viện, Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã từng bước chuyển dịch sang mô hình hoạt động đa nền tảng, đa đối tượng và đa phương tiện, trong đó việc ứng dụng công nghệ và mở rộng không gian truyền thông giữ vai trò ngày càng quan trọng. Sự chuyển đổi này không chỉ phản ánh yêu cầu thích ứng với bối cảnh xã hội hiện đại, mà còn thể hiện sự vận dụng linh hoạt tinh thần “khế cơ, khế lý” trong truyền bá Phật pháp, bảo đảm tính phù hợp giữa giáo lý và nhu cầu tiếp nhận của từng nhóm đối tượng trong xã hội đương đại.

Xét trên tổng thể tiến trình phát triển, hoạt động hoằng pháp của Ban Hoằng pháp Trung ương cho thấy một quá trình vận động có tính hệ thống, đi từ giai đoạn ổn định tổ chức, tiến đến chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa, đồng thời từng bước tích hợp yếu tố số hóa trong phương thức hoạt động. Sự chuyển biến này phản ánh năng lực thích ứng của Phật giáo Việt Nam trước những thay đổi nhanh chóng của thời đại, đồng thời khẳng định định hướng phát triển bền vững dựa trên nguyên lý “khế cơ – khế lý – khế thời”, nhằm bảo đảm tính kế thừa truyền thống và khả năng hội nhập trong tiến trình hoằng truyền Phật pháp.

3. KẾT LUẬN

Trải qua 46 năm hình thành và phát triển, Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã không ngừng trưởng thành và hoàn thiện về tổ chức, chức năng cũng như phương thức hoạt động, từ một thiết chế mang tính khởi dựng trong giai đoạn hậu chiến trở thành một cơ quan chuyên môn có vị trí quan trọng trong hệ thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam và đời sống Phật giáo cả nước.

Những thành tựu đạt được trong tiến trình này phản ánh tính liên tục trong kế thừa và phát triển qua nhiều thế hệ lãnh đạo, đồng thời cho thấy sự thích ứng linh hoạt của công tác hoằng pháp trước những biến đổi của bối cảnh lịch sử – xã hội. Trên phương diện rộng hơn, đây cũng là minh chứng rõ nét cho sức sống bền vững của tinh thần hoằng pháp trong truyền thống Phật giáo Việt Nam, gắn liền với đời sống văn hóa, tinh thần và nhu cầu tâm linh của cộng đồng qua từng giai đoạn phát triển của đất nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Kỷ yếu Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam lần thứ I (Hà Nội: Văn phòng Trung ương GHPGVN, 1981), tr. 15–18.
  2. Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Kỷ yếu 40 năm hình thành và phát triển Ban Hoằng pháp Trung ương (Hà Nội, 2021), tr. 22–25.
  3. Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ VI (Hà Nội, 2012), tr. 8–12.
  4. Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Báo cáo công tác hoằng pháp nhiệm kỳ VIII (Hà Nội, 2022), tr. 30–41.
  5. Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Quyết định chuẩn y nhân sự Ban Hoằng pháp Trung ương khóa IX, nhiệm kỳ 2022–2027 (Hà Nội, 2023).

[1]Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Kỷ yếu Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam lần thứ I (Hà Nội: Văn phòng Trung ương GHPGVN, 1981), tr. 15–18.

[2]Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Kỷ yếu 40 năm hình thành và phát triển Ban Hoằng pháp Trung ương (Hà Nội, 2021), tr. 22–25.

[3]Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Kỷ yếu 40 năm hình thành và phát triển Ban Hoằng pháp Trung ương (Hà Nội, 2021), tr. 45–62.

[4]Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ VI (Hà Nội, 2012), tr. 8–12.

[5]Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Báo cáo công tác hoằng pháp nhiệm kỳ VIII (Hà Nội, 2022), tr. 30–41.

[6]Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Quyết định chuẩn y nhân sự Ban Hoằng pháp Trung ương khóa IX, nhiệm kỳ 2022–2027 (Hà Nội, 2023).

[7]Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Báo cáo công tác hoằng pháp nhiệm kỳ VIII (Hà Nội, 2022), tr. 30–41.

Phật Giáo Tây Ninh

  • Danh sách tin
  • Trang tin điện tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Tây Ninh

No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Thủ Tục Hồ Sơ
  • Tin Tức
    • Phật Giáo Tây Ninh
    • Phật Giáo Trong Nước
  • Ban ngành
    • Tăng sự
    • Giáo dục Phật giáo
    • Hoằng pháp
    • Hướng dẫn Phật tử
    • Văn hóa
    • Nghi lễ
    • Từ thiện Xã hội
    • Thông tin Truyền thông
    • Pháp chế
    • Kiểm soát
    • Phật giáo Quốc tế
  • Huyện Thị
    • Tp Tân An
    • Bến Lức
    • Cần Đước
    • Cần Giuộc
    • Châu Thành
    • Đức Hòa
    • Đức Huệ
    • Tân Thạnh
    • Tân Trụ
    • Thủ Thừa
    • Thạnh Hóa
    • Mộc Hóa
    • Vĩnh Hưng
  • Bài Học Đạo Lý
  • Vấn Đáp
    • Ăn Chay – Phóng Sanh
    • Căn Bản
    • Nhân Sanh – Thế Giới – Vũ Trụ Quan
    • Giới Luật
    • Nghi Thức
    • Lịch Sử Phật Giáo
    • Tịnh Tông
    • Thiền Tông
    • Tịnh Tông
    • Mật Tông
  • Lịch sử -Tự viện
  • Pháp âm – Kinh sách
  • Thông báo